Duolingo là chương trình học ngoại ngữ phổ biến nhất thế giới. Điều thú vị nhất là Duolingo 100% miễn phí!

https://www.duolingo.com/---UFO3---

Bí quyết giảm căng thẳng khi thi, 31.500 thí sinh thi Vật lý thay Ngoại ngữ và 5 topic khác


Bí quyết giảm căng thẳng khi thi

Cuộc sống của học sinh luôn luẩn quẩn với đủ loại kiểm tra. Áp lực đạt điểm cao làm tăng nỗi lo và như là một thứ phá hủy thần kinh.

  • Căng thẳng tốt và xấu

Một vài căng thẳng trước kỳ thi có thể thật sự hữu dụng. Cũng giống như căng thẳng của công việc có thể đầy công việc của bạn tiến triển tốt hơn, căng thẳng kỳ thi có thể thúc đẩy học sinh nỗ lực hơn. Tuy nhiên quá nhiều nỗi lo có thể khiến lòng tin của sinh viên bị yếu đi. Nỗi lo sinh viên đối mặt với kỳ thi như là âm thanh ồn ã hay tĩnh lặng trong tâm trí. Nếu họ không thể thư giãn, tiếng ốn đó sẽ khóa khả năng nhớ những thông tin quan trọng. Nó cũng có thể ảnh hưởng đến hiểu biết và lý luận của họ, việc đó có thể gây khó khăn cho việc giải quyết mọi vấn đề. Cuối cùng sinh viên có được kết quả không thật sự phản ánh đúng khả năng và công sức của họ. Giảm căng thẳng khi thi — nỗi lo về thời gian

Nếu cảm thấy lo lắng trước kỳ thi, các bạn theo những gợi ý sau và giảm nỗi lo, tăng cường năng lượng cho kỳ thi quan trọng sắp tới.

  • Trước khi thi

Đừng nhồi nhét: học như điển vào đêm trước khi thi có thể làm kiệt sức và thêm căng thằng, chỉ nên học từng mục nhỏ trước vài ngày khi thi.

Thi thử: Biết cấu trúc và kiểu đề thi giúp giảm căng thẳng, nếu có sẵn, các bạn có thể làm bài kiểm tra thử.

Ngủ ngon: thiếu ngủ sẽ tăng cường lo lắng. Hãy chắc rằng đi ngủ sớm vào đêm trước khi thi.

Ăn bữa sáng đầy đủ dưỡng chất: Đường trong máu sẽ ở mức thấp nhất vào buổi sáng. Để có thể và xử lý một việc hiệu,các bạn cần một bữa sáng đầy dưỡng chất.

Tập thể dục: bậc cha me nên khuyến khích con em mình tăng cường các họat động thể chất trước kỳ thi để giảm áp lực cơ thể. Ví dụ như đi bộ.

Đến sớm và chuẩn bị kỹ: Đến sớm trước khi thi và mang đầy đủ dụng cụ (ví dụ như bút chì, máy tính), chỉ với những chi tiết nhỏ cũng giúp giảm căng thăng trước khi thi. Việc đó cho phép các bạn tập trung vào bài thi.

  • Trong khi làm bài

Xem trước bài thi và thời gian: Xem trước bài thi, thí sinh có thể tránh được những bất ngờ hay lo lắng không mong đợi. Đồng thới nó cũng giúp các bạn có cơ hội sử dụng thời gian, vì vậy họ sẽ không tốn quá nhiều cho một phần.

Ghi chú những mục nhỏ: Ghi lại những ý chính lập tức giúp các bạn cảm thấy bớt căng thẳng và quên những sự kiện quan trong hay thông tin chính.

Đọc mọi chỉ dẫn: vài bạn cảm thấy rất lo lắng về bài thi nên thường bỏ qua các hướng dẫn.

Trả lời những câu hỏi dễ trước: Giải quyết những câu dễ và đặt chúng qua một bện, các bạn có thể tập trung sức lực và thời gian cho những câu khó hơn.

Viết lại những câu hỏi khó theo cách của bạn: đặt những câu họi khó theo ngôn ngữ của bạn, có thể giúp bạn nghĩa về vấn đề gặp phải. Nhưng nên cẩn thẩn để không thay đổi nghĩa câu hỏi khi viết lại chúng.

Suy nghĩ hoàn chỉnh trước khi viết: Các bạn nên sắp xếp câu trả lời cho những câu hỏi dễ và ngắn trước khi viết. Có kế họach trước sẽ giúp cho bạn cảm thấy tự tin khi viết.

Nghĩ tích cực: Những ý nghĩ tiêu cực trong bài thi ( Ví dụ như “tôi sẽ rớt) có thể hủy họai lòng tin. Thay thế những ý nghĩ tiêu cực bằng những ý nghĩ tích cực hơn (như Mình đã học hành siêng năng, và mình biết thực lực của mình, mình sẽ làm tốt cho kỳ thi này.)

  • Thư giãn:

Nếu bạn cảm thấy căng thẳng trong khi thi, nên thực hiện một số kỹ thuật thư giãn nhanh sau:

§ Thở sâu và khiến cho mọi căng thẳng tan biến

§ Căng cơ trong 5 giây rồi thả lỏng, thực hiện 3 lần

§ Hình dung khung cảng thanh bình và thư thái

Hãy nhớ rằng dung những gợi ý trên sẽ không cần thiết khi căng thằng biến mất hòan tòan. Nhưng, thực hành những kỹ thuật này có thể khiến cho các bạn có được kỹ năng giảm căng thẳng khi thi lúc chúng xuất hiện.

Source: www.kenhsinhvien.net


31.500 thí sinh thi Vật lý thay Ngoại ngữ

Với quy định mở rộng đối tượng thí sinh được thi môn thay thế là những thí sinh ở những cơ sở giáo dục không có đủ điều kiện dạy và học ngoại ngữ, thí sinh gặp khó khăn về ngôn ngữ, thí sinh người dân tộc thiểu số..., số lượng thí sinh thi môn thay thế năm nay tăng lên 31.545 thí sinh.

Với quy định mở rộng đối tượng thí sinh được thi môn thay thế là những thí sinh ở những cơ sở giáo dục không có đủ điều kiện dạy và học ngoại ngữ, thí sinh gặp khó khăn về ngôn ngữ, thí sinh người dân tộc thiểu số..., số lượng thí sinh thi môn thay thế năm nay tăng lên 31.545 thí sinh.

Ông Nghĩa cho biết, những cụm thi có thí sinh thi môn thay thế phải bố trí phòng thi riêng. Trong trường hợp thí sinh thi môn thay thế phải sắp xếp ghép chung phòng thi với thí sinh thi môn ngoại ngữ, các hội đồng coi thi phải bố trí những cán bộ coi thi có kinh nghiệm để tránh việc xảy ra nhầm lẫn sai sót khi thu bài của thí sinh.

Theo thống kê mới nhất của Bộ GD&ĐT, kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay có 1.051.460 thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT, trong đó có 137.274 thí sinh hệ giáo dục thường xuyên. Cả nước có 1.233 cụm thi với 44.152 phòng thi, trong đó có 629 cụm thi có ba trường trở lên (73,1%), 295 cụm thi có hai trường (17,4%) và 309 trường thi riêng lẻ (9,5%). Có 128.677 cán bộ coi thi được huy động cho kỳ thi này.

Thanh Châu

Việt Báo // (Theo_VnMedia)


Đua nhau "né" thi tốt nghiệp tiếng Anh

TT - Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2010 tới, Bộ GD-ĐT cho phép một số đối tượng học sinh (HS) được chọn thi môn vật lý thay môn ngoại ngữ. Vận dụng hướng dẫn này, nhiều nơi triển khai đến 50% HS thi môn thay thế. Đây là điều mà trước nay chưa từng diễn ra.

Chủ trương cho một số đối tượng HS được thi môn vật lý thay thế môn ngoại ngữ của Bộ GD-ĐT năm nay được nhiều tỉnh nhìn nhận là một chủ trương mở rộng sự lựa chọn cho HS, cho các cơ sở. Bộ có quy định những điều kiện được thi môn thay thế, trong đó cho phép HS các trường có cơ sở vật chất thiếu, khả năng tiếp thu ngoại ngữ yếu kém... được thi môn thay thế. Bộ cũng tạo điều kiện cho sở quyết định, lựa chọn chuyện này và chỉ cần báo cáo bộ.

Đón nhận hướng dẫn mới này, nhiều nơi khấp khởi hi vọng có thêm nhiều HS được nhận bằng tốt nghiệp THPT, tỉ lệ tốt nghiệp của tỉnh sẽ tăng lên. Bởi thực tế ở hầu hết các tỉnh thành, tỉ lệ HS đạt điểm trung bình trở lên ở môn vật lý thường cao hơn môn tiếng Anh 20-30%.

Bỏ Anh chọn lý

Ông Trần Hoàng Nhi, giám đốc Sở GD-ĐT Đồng Tháp, cho biết: "Toàn tỉnh có 690 HS chọn thi môn vật lý thay môn tiếng Anh. Con số này chiếm gần 50% tổng số học sinh thuộc năm trường: THPT Giồng Thị Đam, THPT Tân Thành (huyện Tân Hồng), THPT Đỗ Công Tường (TP Cao Lãnh), THPT Kiến Văn (huyện Cao Lãnh) và THPT Nguyễn Trãi (huyện Lấp Vò).

Đây là những trường THPT vùng sâu, vùng biên giới và ba trường nguyên là trường bán công, khó khăn về cơ sở vật chất cũng như khả năng tiếp thu ngoại ngữ của học sinh kém so với các trường khác”. Được biết, tỉ lệ tốt nghiệp THPT năm 2009 của Đồng Tháp là 64%. Tuy nhiên, tỉ lệ điểm trung bình trở lên ở môn tiếng Anh chỉ đạt 38%, ở mức thấp so với khu vực và cả nước.

Tại An Giang, năm nay có gần 20 trường THPT ở các huyện biên giới và các trường có HS dân tộc thiểu số đưa ra chủ trương cho HS thi môn vật lý thay thế tiếng Anh. Tỉ lệ HS thi môn vật lý ở các trường này, theo ông Nguyễn Thanh Bình, giám đốc Sở GD-ĐT An Giang, có trường đạt 70%, có trường 50%, tập trung ở các trường dân tộc Khmer, Chăm, Hoa, những nơi học tiếng Anh không liên tục, một số nơi thiếu giáo viên.

Trong khi đó, ở tỉnh Bình Phước, nơi có tỉ lệ tốt nghiệp THPT năm 2009 gần 84% nhưng chỉ có 32% HS có bài thi tiếng Anh đạt 5 điểm trở lên, hầu hết các trường THPT đều có HS thi môn thay thế. Trong đó, ở nhiều trường con số này lên đến hơn phân nửa HS.

Trường chuyên cũng thay thế!

Giám đốc một sở GD-ĐT nhận định: “Quy định HS được chọn môn thi thay thế còn chung chung, có thể hiểu và vận dụng nhiều kiểu khác nhau”. Thành ra sự vận dụng hướng dẫn của bộ mỗi nơi mỗi khác tùy quan điểm từng địa phương. Có nơi vận dụng thoáng đến mức cho cả HS trường chuyên của tỉnh cũng được thi môn thay thế. “Thậm chí có nơi cho HS thi môn thay thế với lý do trường chưa có phòng lab (tức không đủ cơ sở vật chất)” - vị giám đốc trên dẫn chứng.

Ngược lại, cũng có nhiều địa phương tuy tỉ lệ tốt nghiệp trong nhóm thấp nhất cả nước, điều kiện xã hội khó khăn, trình độ và môi trường dạy và học ngoại ngữ hạn chế nhưng vẫn kiên quyết tổ chức thi ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh) cho 100% học sinh. Điển hình như Trà Vinh, một tỉnh vùng sâu với gần 1/5 dân số là người dân tộc thiểu số, nhưng không có HS nào thi môn vật lý thay thế (ngoại trừ hệ giáo dục thường xuyên).

Ông Trần Ngọc Minh, trưởng phòng khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục Sở GD-ĐT Trà Vinh, nói: “Tỉ lệ đạt điểm trung bình môn tiếng Anh năm trước như vậy là quá thấp so với cả nước. Chúng tôi chấp nhận cái yếu trước mắt và tìm cách nâng chất lượng giảng dạy môn tiếng Anh. Chuyển đổi môn thi có thể đạt cái lợi trước mắt nhưng lâu dài, việc này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý giáo viên tiếng Anh, tâm lý học tập không nghiêm túc. Chuyển đổi dễ dàng quá ảnh hưởng đến cả dạy và học tiếng Anh sau này”.

Giám đốc một sở GD-ĐT khác cho biết: "Nếu chỉ vì chạy theo thành tích mà đua nhau chuyển sang môn thi thay thế để nâng tỉ lệ tốt nghiệp thì môn thi bắt buộc sẽ chẳng còn ý nghĩa gì. Về lâu dài, cách làm này sẽ khiến mặt bằng dạy và học ngoại ngữ khó có thể cải thiện".

Tư vấn môn thi nào có lợi

Theo ông Phạm Nam Dương, trưởng phòng khảo thí Sở GD-ĐT Lai Châu, trong số 2.332 thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm nay có 573 thí sinh sẽ thi môn thay thế môn ngoại ngữ. Ông Dương cho biết: “Chúng tôi không ép buộc học sinh, nhưng trước khi các em đăng ký dự thi cũng phải phân tích tình hình, tư vấn cho các em trong việc lựa chọn thi môn nào có lợi hơn”.

Tại Yên Bái, việc lựa chọn môn thi thay thế cũng được quyết định trên cơ sở đề xuất của các trường THPT. Ông Lê Văn Đức, trưởng phòng khảo thí Sở GD-ĐT Yên Bái, cho biết: "Có trên 600 thí sinh trong tổng số 8.500 thí sinh dự thi tốt nghiệp sẽ thi vật lý thay môn ngoại ngữ". Theo ông Đức, lý do thi môn thay thế là do điều kiện dạy và học ngoại ngữ không đảm bảo chất lượng nên cả ba cơ sở được phép thi môn thay thế đều có 100% thí sinh đăng ký thi vật lý.

VĨNH HÀ ' Phúc Điền

Theo tuổi trẻ online


Lỗ hổng tiếng Anh chuyên ngành

Việc đào tạo tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên chưa hợp lý dẫn đến sinh viên ra trường rất yếu kỹ năng này, ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nghiệp.

“Qua thực tế, tôi thấy nhiều kỹ sư rất yếu tiếng Anh chuyên ngành và những người này thường rất chậm tiến bộ trong công việc”. Ông Phan Trí Dũng, Giám đốc Công ty Cổ phần Khoa học Công nghệ Petech, bày tỏ. Đây cũng là nỗi lo của nhiều doanh nghiệp khi tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp từ các trường ĐH hiện nay.

Khan hiếm giáo trình

Ông Phan Trí Dũng cho biết thêm: Nhiều kỹ sư khi cần tiếp cận với tài liệu khoa học thì chỉ biết vào mạng tra tài liệu bằng tiếng Việt, còn tiếng Anh không đọc được, rồi nản chí. Tiếng Anh chuyên ngành yếu khiến cho trình độ của nhiều kỹ sư trong lĩnh vực kỹ thuật công nghệ tụt hậu nhanh.

PGS-TS Nguyễn Thúy Vân, trưởng bộ môn điện tử viễn thông Trường ĐH Kỹ thuật Công nghệ THPCM, cho rằng tiếng Anh chuyên ngành cực kỳ quan trọng, nếu không biết sẽ không có chìa khóa để mở các kiến thức mới, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Không đọc được tài liệu tiếng Anh thì sinh viên cũng rất khó làm đề án, luận văn chuyên sâu.

Tuy nhiên, tại các trường ĐH hiện nay, việc dạy tiếng Anh chuyên ngành còn nhiều khó khăn, bất cập. Theo TS Nguyễn Văn Thư, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Giao thông Vận tải TPHCM, khó khăn nhất là nguồn tài liệu và giáo trình.

Tại Trường ĐH Giao thông Vận tải TPHCM, giáo trình tiếng Anh chuyên ngành không theo chuẩn nào. Ví dụ, ngành hàng hải thì dùng giáo trình của tổ chức hàng hải thế giới, ngành công nghệ thông tin thì dùng một giáo trình của Anh, một số ngành thì tập hợp từ nhiều môn khác nhau cho phù hợp. Cũng có những ngành không kiếm được tài liệu, giảng viên phải tự soạn nên chất lượng chuyên môn phụ thuộc vào trình độ của người soạn.

Cùng quan điểm, TS Đoàn Huệ Dung, Trưởng Khoa Ngoại ngữ Trường ĐH Nông Lâm TPHCM, nhận định việc xây dựng chương trình và biên soạn tài liệu giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành chưa có sự kết hợp giữa giảng viên tiếng Anh và giảng viên chuyên ngành.

Do đó, giáo trình và phương pháp giảng dạy chưa phù hợp với mục tiêu phát triển khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh trong môi trường làm việc chuyên môn, mà giáo trình hiện mang nặng nội dung đọc – dịch – từ vựng.

Giảng viên không chuyên

TS Ngô Cao Cường, Trưởng Phòng Đào tạo Trường ĐH Kỹ thuật Công nghệ TPHCM, nêu thực tế đa số giảng viên dạy tiếng Anh chuyên ngành tại trường là giảng viên khoa ngoại ngữ. Những giảng viên này khi dạy tiếng Anh chuyên ngành không đáp ứng được bởi tiếng Anh chuyên ngành có thuật ngữ riêng.

Hiện một số ngành đang triển khai việc giảng viên chuyên ngành đảm nhiệm dạy tiếng Anh, tuy nhiên, việc này cũng còn nhiều hạn chế. Tại nhiều trường, phần lớn giảng viên dạy tiếng Anh chuyên ngành cũng đều là giảng viên của khoa ngoại ngữ.

TS Nguyễn Văn Thư cũng cho biết từ khi chuyển sang tín chỉ, việc triển khai dạy học tiếng Anh chuyên ngành khó khăn hơn. Trước đây, nhà trường xây dựng chương trình tiếng Anh cơ bản kết hợp với chuyên ngành cho từng ngành riêng để sinh viên tiếp cận ngay từ đầu, tuy nhiên, khi chuyển sang tín chỉ, sinh viên bắt buộc phải học chương trình tiếng Anh cơ bản chung theo tín chỉ, sau đó mới chuyển sang tiếng Anh chuyên ngành.

Đại diện các trường đều cho rằng thời lượng dành cho tiếng Anh chuyên ngành hiện chưa phù hợp vì chỉ có khoảng 3-4 tín chỉ (tương đương 45-60 tiết). Thời lượng này để dạy cho sinh viên đọc hiểu còn khó. Đó cũng là lý do khiến nhiều sinh viên ra trường nói tiếng Anh rất kém, thiếu tự tin và không làm việc nổi với chuyên gia nước ngoài.

Để khắc phục những hạn chế trên, thời gian qua, nhiều trường tổ chức bổ túc tiếng Anh chuyên ngành cho giảng viên chuyên Anh, cử giảng viên các khoa đi học tiếng Anh, tích cực tiếp cận những tài liệu nước ngoài để xây dựng chương trình phù hợp... Tuy nhiên, kết quả mang lại vẫn chưa như mong muốn.

TS Vũ Thị Phương Anh, Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đánh giá chất lượng đào tạo ĐH Quốc gia TPHCM:

Ba yếu tố để dạy tốt tiếng Anh chuyên ngành

Để dạy và học tốt tiếng Anh chuyên ngành, trước hết cần yếu tố đầu vào. Hiện nay, hầu như không có trường nào xác định mức đầu vào cần thiết để có thể học tiếng Anh chuyên ngành cho có hiệu quả.

Kế đến là giáo trình. Thông thường, các giáo trình tiếng Anh chuyên ngành được soạn sẵn đều không có hiệu quả và kém hấp dẫn, do quá nặng phần ngôn ngữ (chủ yếu là ngữ pháp và từ vựng chuyên ngành), nhưng không cập nhật về nội dung chuyên môn của ngành.

Vì vậy, để đạt hiệu quả cao, giáo viên phải có năng lực chọn và biên soạn tài liệu giảng dạy cho phù hợp. Một nguyên nhân rất quan trọng khác nữa là sự không phù hợp giữa một bên là đầu vào, chương trình, thời lượng và bên kia là mục tiêu đặt ra.

Các mục tiêu thường được đặt rất cao, làm giảm động cơ giảng dạy và học tập của cả thầy lẫn trò. Chính vì vậy mà việc giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành hiện nay có thể xem là chưa thành công, nếu không muốn nói là thất bại.

Cuối cùng là đội ngũ giảng viên. Không thể thay thế giảng viên tiếng Anh chuyên ngành bằng cách yêu cầu các giảng viên ngoại ngữ sang dạy tiếng Anh chuyên ngành, vì điều này là phi lý.

Ở các nước, người ta vẫn để giáo viên tiếng Anh giảng dạy, nhưng có sự kết hợp chặt chẽ giữa giảng viên ngoại ngữ và giảng viên chuyên ngành sao cho việc dạy học đạt được kết quả cao nhất.

Theo Thùy Vinh

Người Lao Động


Obama 'dạy tiếng Anh ở Nhật'

Những cuốn sách và băng đĩa ghi các bài diễn văn của Tổng thống Mỹ Barack Obama đang là hàng hot ở Nhật, đặc biệt là với những người muốn học tiếng Anh.

CD ghi bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống với sách kèm theo đã thành công rực rỡ với 200.000 bản được bán ra kể từ khi xuất bản hồi tháng giêng. Cuốn tuyển tập các bài diễn văn của Obama thậm chí còn xuất sắc hơn với hơn nửa triệu bản từ tháng 11 năm ngoái. Obama đang nổi lên như một giáo viên dạy tiếng Anh ở Nhật.

Tràn ngập thị trường xuất bản ở Nhật là các tít: "Làm thế nào diễn thuyết tiếng Anh theo phong cách Obama?", "Học ngữ pháp tiếng Anh từ Obama", "Tôi có thể với Obama: 40 cụm từ tiếng Anh có sức lôi cuốn từ các email của Tổng thống".

Các nhà xuất bản đang thi nhau chiếm lấy ngành công nghiệp dạy tiếng nước ngoài ở Nhật - thị trường đáng giá tới 767 tỷ yên hay 8,7 tỷ USD, New York Times cho hay. Con số này bao gồm tiền sách, CD, từ điển, chương trình học trực tuyến, những bài thi tiêu chuẩn và những lớp học thêm. Phần lớn trong số tiền này được chi cho việc học tiếng An.

Hầu hết người Nhật, kể cả những người học tiếng Anh, đều gặp khó khăn trong việc nắm bắt một bài diễn văn của người bản ngữ.

Tuy nhiên "tiếng Anh của ngài Obama thì rất dễ hiểu, ông phát âm từ rất rõ ràng và nói với tốc độ tương đối chậm. Phạm vi từ mà ông dùng cũng thích hợp với cả những người trình độ cao và thấp, đôi khi chỉ nằm trong phạm vi cơ bản cho những người không phải bản ngữ", giáo sư Tadaharu Nikaido, một chuyên gia ngôn ngữ nhận xét.

Vẫn có một số lượng lớn người mua đĩa nhưng không thể hiểu được Tổng thống Obama nói gì. Những nhà xuất bản nói rằng kể từ khi cho ra đời bộ đĩa và sách, họ thường xuyên nhận được những tấm thiếp của bạn đọc viết về sự cảm động của họ khi nghe những bài nói chuyện của Obama. Yuzo Yamamoto, một biên tập viên tại Asahi cho biết "Một số thậm chi còn nói rằng từ duy nhất mà họ nghe được là "đúng, chúng ta có thể", tuy vậy họ vẫn chảy nước mắt".

Ông Yamamoto còn cho rằng sự chân thật trong lời nói và cách biểu đạt của Tổng thống làm bài diễn vặn dường như có nhạc.

Cơn sốt Obama dường như phản ánh một số mặt trong xã hội đang đổi thay của Nhật Bản. Dường như người dân đang mong đợi một thế hệ lãnh đạo có phong cách giao tiếp hiệu quả, năng động và truyền cảm hứng hơn, một điều vốn không phổ biến ở đất nước hoa anh đào.

"Nước Nhật không chú trọng đến giao tiếp" Yamamoto nói "Trong một công ty Nhật, hoặc một đảng phái chính trị hoặc bất cứ ở đâu có nhóm người Nhật, mọi vấn đề được thông qua bằng sự nhất trí, kết quả cũng là sự nhất trí, sự nhất trí là quan trọng nhất. Vì thế, cái sự nhất trí đó thường bị người nghe lãng quên".

Hải Minh

Theo vnexpress


“Bí kíp" học tiếng Anh của chuyên gia nước ngoài

Nhân hội nghị quốc gia về tiếng Anh, phóng viên VietNamNet đã phỏng vấn các chuyên gia một số kinh nghiệm dạy và học môn ngoại ngữ này.

Ông Peter Moor, tác giả của những cuốn sách giáo khoa tiếng Anh nổi tiếng

Đừng quá chú trọng văn phạm, đọc tài liệu mà cố gắng lắng nghe người bản xứ nói càng nhiều càng tốt. Đừng e ngại nếu phạm lỗi khi nói.

Không có quy định học tiếng Anh ở độ tuổi nào, 30-40 tuổi thậm chí hơn thế nữa vẫn có thể học tiếng Anh. Tuy nhiên nếu học ngoại ngữ từ bé thì phát âm theo giọng người bản xứ sẽ chuẩn hơn so vớikhi đã lớn.

Với kỹ năng phát âm, đầu tiên phải tập nghe. Lúc ban đầu không nghe được, cố gắng nghe người bản xứ để hỗ trợ cho việc học của mình. Đến khi phát âm không chỉ là độ trầm bổng mà còn phải xem chữ đó phát âm như thế nào và nhịp điệu của câu ra sao.

Khi tôi bắt đầu học tiếng Tây Ban Nha mở băng ra chỉ nghe được vài từ nhưng sau vài tháng có thể nghe được nhiều hơn và tôi đã có thể học được 4 thứ tiếng: Tây Ban Nha, Đức, Ý, Pháp.

Giáo viên, thường có khuynh hướng dạy tất cả những gì họ biết. Theo tôi, nên dạy vừa đủ cho học sinh cần biết. Một tiết học có thể học trên 10 từ là đủ và cần thiết phải ôn lại thường xuyên những gì đã dạy để sinh viên nhớ lâu.

Ông Thommas Hayton, giảng viên Hội đồng Anh Malaysia

Tôi nhận thấy sử dụng công nghệ trong giảng dạy tiếng Anh rất đỡ cho giáo viên và chính các em học sinh tiếp thu bài giảng cũng nhanh hơn. Cụ thể là sử dụng Powerpoint trong máy tính cho các bài học trên lớp.

Vai trò của Powerpoint trong bài giảng trên lớp không chỉ là lật từng trang của bài diễn thuyết, chẳng mấy chốc học sinh lăn ra ngủ.

Thay vào đó, cần tận dụng triệt để tính năng tương tác được cài đặt trong này như nhạc, phông chữ giống phim hoạt hình, mầu sắc lấp lánh... để các em thấy thú vị với bài giảng và các em có thể tham gia trực tiếp.

Ông Mario Rinvoluci, Giám đốc Bộ phận đào tạo giáo viên ở trường Pilgrims (Anh)

Có 2 mốc thời gian mà học trò cũng ảnh hưởng đến công việc giảng dạy của tôi. Những năm 70, học trò của tôi là người Iran nên ảnh hưởng ít nhiều đến việc giảng dạy. Các trò này rất thông minh và sáng dạ, kỹ năng nghe nói rất tốt nhưng kỹ năng đọc và viết rất tệ.

Năm 1990, sinh viên của tôi đa số là người Nhật, họ viết rất tốt và hầu như không có lỗi chính tả; nhưng nói không tốt,cũng không chịu nói và nghe cũng rất tồi.

Qua 2 trường hợp trên cho thấy, tùy từng đối tượng học sinh mà áp dụng cách dạy cho tốt. Theo tôi nên sử dụng phương pháp đa trí tuệ. Phương pháp này sử dụng phổ biến ở các trường tiểu học và trung học ở Mỹ. Cách này không chỉ sử dụng cho môn ngoại ngữ mà còn cho cả các môn khác như Toán, Lịch sử… Ở nước Anh những đặc trưng này cũng được sử dụng phần nào.

Trước đây theo truyền thống các trường ĐH ở Mỹ kiểm tra học sinh bằng những bài học kiểm tra về khả năng tư duy toán học và khả năng tư duy ngôn ngữ thế nhưng tôi tin rằng có những loại trí thông minh khác như trường hợp Moza chẳng hạn!

Hình thức đa phương tiện này giúp người học rất nhiều, ví dụ trong lớp 40 người có 6 - 7 học sinh giỏi ngôn ngữ. Giáo viên có tồi đến đâu, các em cũng học nhanh và sáng dạ. Tuy nhiên, những em còn lại không hẳn là kém mà thông minh theo dạng khác như âm nhạc thì giáo viên có thể truyển tải việc học tiếng Anh thông qua âm nhạc.

Và..... hay nhất !!!

Lời khuyên học tiếng anh hiệu quả của bà Alexandria S.Hadden

Phải đặt ra cho mình một mục tiêu. Học để làm gì? Học giỏi đến cỡ nào là vừa (dịch, nói chuyện hay dành cho học thuật) ?

Cố gắng học đều đặn, ngày nào cũng học dù đó là ngày lễ hay nghỉ hè. Học mỗi ngày một ít, thực tập những điều đã biết và học thêm những điều mới.

Khi đạt được một tiến bộ mới cũng nên tưởng thưởng cho mình.

Tìm một người đã rất thành công trong việc học ngoại ngữ để học hỏi kinh nghiệm.

Đừng e ngại. Phải tận dụng tất cả mọi cơ hội để học tập tiếng Anh.

Cố gắng đọc dù đọc một cuốn sách dành cho trẻ con hay một đoạn trong bài báo.

Đừng bao giờ chán nản. Học ngoại ngữ giống như tập đi xe đạp, phải ngã vài lần rồi mới thành công. Cố gắng tạo niềm vui trong học tập.

Theo Vietnamnet


Bí quyết đọc hiểu và đọc lướt tiếng Anh

Hẳn bạn đã nghe về những người có khả năng đọc được 2.500 từ chỉ trong một phút. Có thể họ có được khả năng đó. Tuy nhiên sẽ thật sai lầm khi đánh đồng khả năng đọc nhanh với việc hiểu được nội dung.

Nói chung, đọc là một quá trình tổng hợp không chỉ đòi hỏi nắm được từ ngữ mà còn cả dấu câu, cú pháp, ngữ pháp, tục ngữ và cảm thụ được cảm xúc của người viết...

Khi đọc, điều quan trọng không phải là tốc độ mà là khả năng nắm được nội dung. Khó có thể định lượng khả năng này, và có lẽ càng khó mang nó ra thi thố. Nhưng kỹ năng hiểu thực sự cần thiết cho cuộc sống của chúng ta. Thời đại thông tin hiện nay đòi hỏi không những khả năng tích lũy thông mà còn cần cả khả năng xử lý thông tin. Hãy tham khảo một số phương pháp đọc hiểu sau:

Trước tiên, bạn cần phải biết rằng không phải câu từ đều có chức năng giống nhau. Một số từ dùng chỉ vật như danh từ, những từ khác lại dùng để chỉ đặc tính của vật như tính từ, trong khi động từ lại dùng để diễn đạt hành động, còn trạng từ dùng để bổ nghĩa cho hành động. Nắm được phương thức tổ chức của các nhóm từ cơ bản trên trong văn cảnh của một câu cho sẵn sẽ rất tiện lợi.

Ví như, thông thường các danh từ đứng ở đầu câu. Chúng giữ vai trò rất quan trọng trong việc chỉ ra câu đó nói về ai, về cái gì. Tính từ đứng ngay trước danh và truyền tải thông tin ít hơn danh từ vì chức năng cơ bản của tính từ là làm rõ nghĩa cho danh từ. Có nhiều danh từ như “House”, “boy” hay “eternity”..., tự bản thân những từ đã hàm nghĩa. Thật ra, ngoài từ “long” thì còn có từ nào đó vẫn có thể bổ nghĩa cho từ “eternity”?

Động từ thì đứng sau danh từ. Chúng giúp người đọc biết được hoạt động của chủ ngữ. Điều này rất quan trọng vì các hành động thường truyền tải rất nhiều thông tin về trạng thái và tình huống. Ví dụ trong câu “the man shuddered...” thì ta không những thấy được trạng thái rùng mình mà còn cảm nhận được cảm xúc của ông ta và những tình huống lý giải cho trạng thái đó.

Trạng từ thường đứng sau động từ để mô tả cụ thể hành động. Ví dụ, như câu “ He smiled happily” và câu “He smiled sarcastically” có nghĩa rất khác nhau. Cũng như tính từ, trạng từ được phân biệt nhờ tầm quan trọng của chúng đối với việc hiểu, vì trạng từ còn phụ thuộc vào động từ trong câu. Nói chung các động từ như “crying”, “ shouted”... thì tự chúng cũng có sắc thái nghĩa, còn những động từ khác như “gave”, “said”, dreams” có sắc thái nghĩa mờ hơn.

Khi biết được các nhóm từ cơ bản và hình thức tổ chức của chúng, người đọc sẽ dễ dàng hiểu toàn bộ ý nghĩa của câu. Đặ biệt là đối với trẻ em, sẽ rất tốt nếu chúng biết được trạng từ là gì, vị trí và vai trò của trạng từ trong câu.

Việc đọc lướt cũng rất hữu ích. Đây là kỹ năng rất cần thiết cho các doanh nhân và sinh viên. Nó giúp người đọcphân biệt được phânf nào quan trong hơn còn phần nào kém quan trọng hơn trong một mẩu tin. Phần quan trọng hơn thường là danh từ (đặc biệt là những cái tên trong một mẩu tin về sự kiện có thật) và các động từ. Những điểm khác cần lưu ý khi đọc lướt là các con số ( như số liệu thống kê, ngày tháng) và thời của động từ (liệu hành động được diễn ra ở thời quá khứ, hiện tại hay tương lai) . Những phần quan trọng hơn có thể là các từ như “a”, “the”, “or”, “and”, “if”, “as” ... các từ được lặp lại, hay một số tính từ và trạng từ.

Dưới đây là một câu chuyện hư cấu và một mẩu tin có thật.

Chúng ta đánh dấu những phần quan trọng giúp hiểu nội dung văn bản:

“Suddenly, he ad a loud bang in the distance. Mark’s head began to spin wildly. The explosion had been close, too close. Panicking, he clutched desperately at his camera turned to flee. Them, a voice, faint but growing stronger, crept towards him. He looked round, it was a young girl. “Mark, are you okay? Mark didn’t know whether to laugh or cry. He was alive. That was all he knew”

Trong 71 từ có trong văn bản trên, chỉ cần phải hiểu 38 từ. Vì vậy, không cần phải dùng một kỹ thuật đặc biệt nào cũng có thể đọc nhanh gấp đôi nhờ kỹ năng đọc lướt.

Sau đây là một ví dụ khác:

“In November 1918, the great war finished. Some 20 million men, women, children are estimated to have perished during the year of conflict and the flu epidemic which ensued. The German leader, kaiser Wilhelm was replaced with an embryonic new republic, called Weimar. It would have to tackle, in 1923, spiralling hyper-inflation, and later the vise and rise of Adolf Hiler and his Naris. The first war was only the five number of a conflagration still get to S”

Với những mẩu tin có ngày tháng và tên gọi như mẩu tin trên thì kỹ năng đọc lướt thực sự hữu dụng để hiểu thông tin.

Thu Giang - Global Education


Posted on: 8/1/2017
The lastest undate: 9/1/2017

reading

for

you

Thank

1 năm trước

9 Nhận xét


https://www.duolingo.com/Cie_Phantomhive.
Cie_Phantomhive.
  • 13
  • 10
  • 6
  • 6
  • 5
  • 3
  • 3
  • 3
  • 2
  • 2
  • 2
  • 2
  • 2
  • 2

1like

1 năm trước

https://www.duolingo.com/Haccongchua

sao bạn ko đăng topic này khi mà chưa thi học kì cơ chứ

1 năm trước

https://www.duolingo.com/Never...GiveUp

Bn nói đúng . Thi xong rùi nói làm g

1 năm trước

https://www.duolingo.com/---UFO3---

Tại lúc đó nhiều bạn trên Duolingo phản ánh là mình đăng nhiều topic quá nên mình tạm thời nghỉ đăng.

1 năm trước

https://www.duolingo.com/Never...GiveUp

ai phản ánh ?

1 năm trước

https://www.duolingo.com/Haccongchua

chán chán chán

1 năm trước

https://www.duolingo.com/Moon_Kute

like .

1 năm trước

https://www.duolingo.com/Lenguyenkhang

Hay! bài viết hữu ích

1 năm trước

https://www.duolingo.com/Legiahuy

Hay! Bài viết hữu ích

1 năm trước